Đất thừa kế trên 30 năm thuộc quyền sử dụng của ai? [Mới]
Đất thừa kế để hơn 30 năm có phải tự động thuộc về người đang sử dụng? Người đang quản lý đất có được đứng tên sổ đỏ? Các đồng thừa kế còn quyền yêu cầu chia đất hay không? Đây là vấn đề rất dễ gây tranh chấp trong những gia đình có di sản là nhà, đất để lại qua nhiều thế hệ.

ĐẤT THỪA KẾ TRÊN 30 NĂM CÓ CÒN ĐƯỢC CHIA KHÔNG?
30 năm kể từ ngày người để lại di sản chết là thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là quyền sử dụng đất theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.
Do vậy, đất thừa kế trên 30 năm thì không thể khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia đất nữa.
SAU 30 NĂM, ĐẤT CÓ MẶC NHIÊN THUỘC NGƯỜI ĐANG SỬ DỤNG?
Không phải mọi trường hợp đều như vậy.
Ví dụ:
Ông A mất năm 1995, để lại một mảnh đất cho các con nhưng gia đình chưa chia. Người con cả tiếp tục quản lý, sử dụng đất đến năm 2026.
Đến năm 2026 đã hơn 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, để xác định quyền đối với di sản cần xem xét người con cả có phải là người thừa kế đang quản lý di sản hay không, những người thừa kế khác là ai và có phát sinh các tình tiết pháp lý đặc biệt hay không.
Do đó, không thể áp dụng máy móc nguyên tắc:
“Ai ở trên đất 30 năm thì đất thuộc về người đó.”
Cách hiểu này không chính xác.
NẾU CÓ NGƯỜI THỪA KẾ ĐANG QUẢN LÝ ĐẤT THÌ SAO?
Đây là trường hợp Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định khá rõ.
Sau khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản, nếu có người thừa kế đang quản lý di sản, thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý đó.
Tuy nhiên, cần phân biệt:
Người đang quản lý đất ≠ bất kỳ người nào đang chiếm giữ đất.
Người đang quản lý di sản phải được xác định trong quan hệ thừa kế. Nếu người đang sử dụng đất không phải người thừa kế hoặc việc quản lý, chiếm hữu có tranh chấp thì cần xem xét thêm các quy định về chiếm hữu và quyền đối với tài sản.
KHÔNG CÓ NGƯỜI THỪA KẾ QUẢN LÝ ĐẤT THÌ ĐẤT THUỘC VỀ AI?
Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì:
Trường hợp 1: Có người đang chiếm hữu đáp ứng điều kiện luật định
Di sản được giải quyết theo Điều 236 Bộ luật Dân sự.
Điều 236 quy định người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 30 năm đối với bất động sản thì có thể xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự hoặc luật khác có quy định khác.
Trường hợp 2: Không có người chiếm hữu đáp ứng điều kiện
Di sản thuộc về Nhà nước theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự.
ĐẤT ĐAI KHÔNG PHẢI “SỞ HỮU RIÊNG” CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT
Đây là điểm rất quan trọng khi nói về “ai sở hữu đất”.
Theo pháp luật đất đai Việt Nam, cần phân biệt:
- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân;
- Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý;
- Cá nhân, tổ chức có thể có quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Vì vậy, trong tranh chấp thừa kế, cách nói chính xác là “ai có quyền sử dụng đất” hoặc “ai được nhận thừa kế quyền sử dụng đất”, thay vì nói cá nhân “sở hữu mảnh đất”.
Luật Đất đai 2024 cũng quy định quyền thừa kế quyền sử dụng đất và hồ sơ đăng ký đối với trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất.
THỪA KẾ ĐẤT TRÊN 30 NĂM CÓ ĐƯỢC CẤP SỔ ĐỎ KHÔNG?
Có thể được đăng ký, nhưng không phải cứ sử dụng trên 30 năm là đương nhiên được cấp Giấy chứng nhận.
Luật Đất đai 2024 quy định trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất phải thực hiện việc đăng ký theo quy định. Nghị định 101/2024/NĐ-CP cũng quy định hồ sơ đăng ký đối với trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất, trong đó có giấy tờ về việc nhận thừa kế theo pháp luật dân sự.
Đặc biệt, Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định điều kiện thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất; trong đó pháp luật có ngoại lệ đối với trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất về điều kiện phải có Giấy chứng nhận.
Do đó, trường hợp đất thừa kế lâu năm nhưng chưa sang tên cần xem xét nguồn gốc đất, giấy tờ về thừa kế, người thừa kế và tình trạng đăng ký đất đai trước khi thực hiện thủ tục.
5 LƯU Ý VỚI ĐẤT THỪA KẾ TRÊN 30 NĂM
Trường hợp 1: Một người thừa kế quản lý đất
Cần xác định người đó có đúng là người thừa kế đang quản lý di sản hay không.
Trường hợp 2: Một người tự ý đứng tên sổ đỏ
Nếu việc cấp Giấy chứng nhận trước đó có dấu hiệu không đúng quy định hoặc xâm phạm quyền của người thừa kế khác, có thể phát sinh tranh chấp về quyền sử dụng đất và yêu cầu xem xét Giấy chứng nhận.
Trường hợp 3: Đất đã được chuyển nhượng
Cần kiểm tra người chuyển nhượng có quyền định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất hay chỉ có quyền đối với phần di sản của mình.
Trường hợp 4: Có nhiều đời thừa kế
Đất của ông bà để lại nhưng người con cũng đã chết thì có thể phát sinh thừa kế thế vị hoặc các quan hệ thừa kế tiếp theo, khiến việc xác định người có quyền trở nên phức tạp.
Trường hợp 5: Người để lại đất chết từ rất lâu
Không nên chỉ lấy ngày hiện tại trừ đi 30 năm. Với những trường hợp có thời điểm mở thừa kế từ rất lâu, đặc biệt trước ngày 10/9/1990, việc xác định thời hiệu còn phải xem xét quy định chuyển tiếp và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT THỪA KẾ TRÊN 30 NĂM
Nhiều gia đình quản lý và sử dụng đất thừa kế trên 30 năm tuy không có tranh chấp nhưng lại không làm được sổ đỏ.
Chúng ta đều biết quy định pháp luật là đầy đủ để công nhận quyền sử dụng đất cho người thừa kế đang sử dụng đất, nhưng quy trình làm sổ đỏ thì lại không đơn giản.
Muốn được cấp sổ đỏ sẽ còn nhiều vấn đề cần làm rõ, nhiều thông tin cần xác minh, niêm yết.
Nếu các bạn có vướng mắc cần luật sư hỗ trợ hãy liên hệ với chúng tôi ngay hôm nay
CÔNG TY LUẬT TRÍ NAM
ĐT/ZALO: 0934.345.745 - 0934.345.755
