Giả mạo chữ ký của vợ chồng có sao không?

Thông thường nếu không có tranh chấp thì việc vợ chồng nhờ nhau ký hộ, ký thay cho nhau là điều bình thường, phù hợp với tập quán xã hội. Tuy nhiên khi có tranh chấp xảy ra, việc ký giả, ký thay vợ chồng được xem xét theo quy định pháp luật để đánh giá hiệu lực của giao dịch dân sự có hiệu lực hay không, là vấn đề pháp lý quan trọng được Tòa án xét xử nhiều trong các năm gần đây.

Theo Bộ luật dân sự 2015 thì vợ, chồng được đại diện cho nhau thực hiện giao dịch dân sự, nhưng việc đại diện phải được xác lập đúng quy định, khi đó một người có thể thay mặt cả hai vợ chồng để thực hiện giao dịch. Quy định này khác biệt với việc cá nhân ký thay chữ ký của vợ chồng mình.

Ký giả chữ ký của vợ chồng để định đoạt, chuyển quyền sở hữu tài sản chung là hành vi gian dối, giao dịch này vô hiệu theo Điều 122 Bộ luật dân sự 2015. Bởi việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

“Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”

Giả mạo chữ ký người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Hành vi giả mạo chữ ký bị coi là tội phạm nếu mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a khoản 3 Điều 2 Luật Sửa đổi Bộ luật hình sự 2017:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) (đã bị bãi bỏ)

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) (đã bị bãi bỏ)

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) (đã bị bãi bỏ)

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Giả mạo chữ ký của người có chức vụ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 359 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 2 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017:

“Điều 359. Tội giả mạo trong công tác

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu;

b) Làm, cấp giấy tờ giả;

c) Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu;

c) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 02 giấy tờ giả đến 05 giấy tờ giả.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 06 giấy tờ giả đến 10 giấy tờ giả;

b) Để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng 11 giấy tờ giả trở lên;

b) Để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

Trong thực tế có nhiều trường hợp đã thực hiện việc ký thay nhưng việc làm này không nhằm mục đích vụ lợi nên sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo trong công tác hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như đã nói, có trường hợp người giả mạo chữ ký có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.

Mức tiền xử phạt vi phạm hành chính phụ thuộc vào tính chất cũng như mức độ của hành vi vi phạm và tùy thuộc việc giả mạo chữ kí trong từng lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn, trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, người có hành vi giả mạo chữ ký của tác giả trên tác phẩm bị xử phạt vi phạm hành chính từ 10 triệu đến 15 triệu. Người giả mạo chứng từ kế toán trong lĩnh vực kế toán thì bị phạt tiền từ 2triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu giả mạo chứng từ kế toán.