Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Căn cứ phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm Bồi thường thiệt hại. Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Bộ luật dân sự 2015 đã được sửa đổi và có sự tiến bộ so với Bộ luật dân sự 2005. Cụ thể, khoản 1 Điều 584 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, trong Bộ luật dân sự 2015, căn cứ xác định trách nhiệm Bồi thường thiệt hại là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”. Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự 2005, trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý”. Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi. Bộ luật dân sự 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm Bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện:

✔   Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại về tinh thần. Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định. Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lòng tin… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.

✔  Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm: Làm những việc mà pháp luật cấm, không làm những việc mà pháp luật buộc phải làm, thực hiện vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định.

✔  Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại. Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên. Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại.

Ngoài ra, Bộ luật dân sự 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bộ luật dân sự 2005 quy định về các đối tượng bị xâm phạm trong căn cứ phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại theo hướng liệt kê. Cụ thể, khoản 1 Điều 604 quy định: “Người nào có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong bộ luật dân sự

Với quy định như đã nói ở trên, đối với cá nhân, Bộ luật dân sự 2005 có phạm vi điều chỉnh rất rộng. Tuy nhiên, đối với pháp nhân, Bộ luật dân sự 2005 chỉ liệt kê ba đối tượng bị xâm phạm là “danh dự, uy tín, tài sản”. Quy định mới tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 đã khắc phục được nhược điểm trên, theo đó, đối tượng bị xâm phạm làm phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại của cá nhân và pháp nhân bao gồm “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác”.

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì một trong những điều kiện để phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại là có lỗi của người gây thiệt hại. Tuy nhiên, điều này sẽ là không hợp lý với những trường hợp thiệt hại là do tài sản gây ra. Bởi vì, theo lý luận về Nhà nước và pháp luật thì lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Vậy thì, không thể tìm kiếm được yếu tố lỗi trong trường hợp tài sản - một vật vô tri, vô giác - gây ra thiệt hại. Bộ luật dân sự 2015 đã khắc phục được thiếu sót này khi bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại là “tài sản gây thiệt hại”. Cụ thể, khoản 3 Điều 584 quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản gây thiệt hại”. Sự bổ sung của Bộ luật dân sự 2015 đã sát thực tế hơn và tạo nên sự thống nhất trong quy định về thực tiễn áp dụng pháp luật, góp phần làm ổn định và lành mạnh hóa các quan hệ pháp luật dân sự.

Bộ luật dân sự 2015 đã sửa đổi khá hoàn chỉnh những hạn chế cũng như bất cập của các quy định liên quan đến vấn đề này. Ngoài ra, Bộ luật dân sự 2015 còn bổ sung nhiều điểm mới rất tiến bộ và hợp lý so với các quy định trong Bộ luật dân sự 2005.

Xác định lỗi của hành vi vi phạm pháp luật khi yêu cầu bồi thường thiệt hại

Khi xác định trách nhiệm dân sự Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải xác định yếu tố lỗi để có căn cứ quy trách nhiệm cho người có hành vi trái pháp luật, người có hành vi có lỗi phải bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đó, cũng cần phải phân biệt những trách nhiệm dân sự liên quan đến những quan hệ dân sự và những chủ thể nhất định của quan hệ dân sự đó và trách nhiệm dân sự của chủ thể, Như vậy, không cần thiết phải đưa ra quan điểm trong việc nhận thức về lỗi trong trách nhiệm dân sự Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là do suy đoán. Nguyên tắc xác định lỗi theo Luật sư Trí Nam như sau:

✔  Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi đó là vô ý hay cố ý, mà người gây thiệt hại hoàn toàn không có lỗi thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

✔  Người gây thiệt hại có lỗi vô ý và người bị thiệt hại cũng có lỗi vô ý trong việc gây ra thiệt hại thì trách nhiệm này là trách nhiệm hỗn hợp.

✔  Người gây thiệt hại có lỗi vô ý, người bị thiệt hại có lỗi cố ý thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

Như vậy, thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi đó có ở hình thức này hay hình thức khác, ở mức độ này hay mức độ khác thì người gây thiệt hại không có trách nhiệm bồi thường.

Các trường hợp được miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng

Khi các bên không thỏa thuận thì hành vi vi phạm nghĩa vụ chỉ được miễn trách nhiệm khi thuộc các trường hợp sau:

✔  Trường hợp miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng

- Hiểu một cách đơn giản, sự kiện bất khả kháng là các sự kiện xảy ra ngoài tầm kiểm soát của bên vi phạm, không thể lường trước được và không thể khắc phục được cho dù bên bị vi phạm đã áp dụng mọi biện pháp khắc phục, bao gồm nhưng không giới hạn các trường hợp như bão lụt, hạn hán, đình công, bạo loạn…

- Khi xảy ra các trường hợp bất khả kháng bên vi phạm có trách nhiệm thông báo cho bên kia trong một thời hạn hợp lý.

- Các bên có thể kéo dài thêm thời gian thực hiện hợp đồng, tuy nhiên nếu quá thời hạn nêu trên mà vẫn không thể thực hiện hợp đồng thì các bên có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại.

✔  Trường hợp miễn trách nhiệm do hành vi vi phạm của bên vi phạm hoàn toàn do lỗi của bên bị vi phạm

- Đây là trường hợp một bên vi phạm Hợp đồng nhưng nguyên nhân dẫn đến sự vi phạm đó là do lỗi cua bên bị vi phạm

Ví dụ: Công ty A ký hợp đồng mua 10 tấn thiếc với công ty B. Hai bên thỏa thuận bên A sẽ ứng trước cho bên B 50 % giá trị hợp đồng để bên B lấy kinh phí khai thác thiếc. Tuy nhiên, công ty A đã không chuyển tiền ứng trước cho bên B, do đó bên B không khai thác kịp tiến độ và không giao hàng đúng hạn cho bên A. Trường hợp này tuy bên B giao hàng chậm nhưng lại được miễn trách nhiệm.

- Tuy nhiên pháp luật không quy định trường hợp một bên vi phạm hợp đồng do hoàn toàn lỗi của bên thứ 3, do đó trong trường hợp này tuy rằng bên bị vi phạm không có lỗi trong việc gây ra vi phạm Hợp đồng nhưng vẫn không được miễn trách nhiệm.

✔  Trường hợp miễn trách nhiệm do quyết định của cơ quan có thẩm quyền

Ở trường hợp miễn trách nhiệm này, quyết định của cơ quan nhà nước khiến cho các bên không thể thực hiện Hợp đồng dẫn đến sự vi phạm Hợp đồng. Tuy nhiên ở thời điểm giao kết hợp đồng các bên không biết đến quyết định của cơ quan nhà nước, nếu đã biết mà vẫn tiếp tục ký kết hợp đồng thì không được miễn trách nhiệm.

Dịch vụ luật sư khởi kiện yêu cầu bổi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Công ty Luật Trí Nam nhận đại diện bào chữa để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng. Luật sư căn cứ theo quy định hiện tại của hợp đồng kinh tế và hành vi vi phạm của đối tác để xác định mức yêu cầu bồi thường thiệt hại trong đó đảm bảo: “Yêu cầu bồi thường toàn bộ các thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Một số yêu cầu phổ biến thường áp dụng:

✔  Yêu cầu bồi thường khoản lợi trực tiếp bị mất đi do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng gây ra.

✔  Yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm gây ra.

✔  Yêu cầu bồi thường chi phí phải bỏ ra để khắc phục hàng hóa hư hỏng, khắc phục công việc mà đối tác làm thiếu sót, chi phí phải trả cho bên thứ ba có liên quan đến hành vi vi phạm.

✔  Yêu cầu bồi thường chi phí thuê luật sư, chi phí đi lại của thân chủ cho việc khởi kiện, giải quyết tranh chấp.

Và nhiều yêu cầu khác mà mỗi vụ án, mỗi hợp đồng có những cách thức yêu cầu khác nhau. Theo quy định của Luật thương mại 2005, Bộ luật dân sự 2015 thì thiệt hại phải được bồi thường triệt để bao gồm cả thiệt hại vô hình và hữu hình. Tuy nhiên để cơ quan tố tụng chấp thuận yêu cầu bồi thường thiệt hại thì cần phải chuẩn bị căn cứ pháp luật chặt chẽ, chứng cứ đủ mạnh mới có thể đạt được thành công. Quý vị quan tâm hãy gọi ngay cho Luật sư để được tư vấn và trợ giúp sớm nhất.

Điện thoại: 0904.588.557  -  0934.345.745      Email: hanoi@luattrinam.vn

Luật sư Trí Nam khi được mời sẽ thay mặt đảm bảo cho thân chủ những vấn đề pháp lý dưới đây:

✔ Thứ nhất là kiểm tra hiệu lực của hợp đồng kinh tế, đánh giá các chứng cứ tài liệu liên quan ảnh hưởng đến giá trị hợp đồng và nghĩa vụ phải làm của các bên theo thỏa thuận hợp đồng. Điều này là quan trọng bởi

+ Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh nghĩa vụ giữa các bên.

+ Phụ lục hợp đồng vô hiệu, điều khoản hợp đồng vô hiệu có thể làm hợp đồng chính vô hiệu.

+ Điều khoản hợp đồng không có khả năng thực hiện, hoặc được giao kết không tự nguyện không có giá trị bắt buộc thực hiện.

✔ Thứ hai là kiện toàn cơ sở pháp lý bao gồm cả tra cứu nguồn án lệ để xác định đúng, xác định đủ các yêu cầu buộc đối tác thực hiện. Đây cũng là cơ sở quan trọng để giúp khách hàng thắng kiện khi giải quyết tranh chấp.

✔ Thứ ba là vận dụng linh hoạt khả năng đối đáp, ứng biến của Luật sư để giải quyết nhanh, chốt nhanh các điểm có lợi trong bước đàm phán, thương lượng tranh chấp hợp đồng trước khởi kiện. Các thỏa thuận mới được các bên thừa nhận là căn cứ hợp pháp và có giá trị tương đương với các tài liệu, chứng cứ hiện có.

✔ Thứ tư luật sư luôn triển khai công việc tận tâm, nên luôn đóng vai trò là điểm tựa pháp lý và người đưa ra các phương án hạn chế các mâu thuẫn phát sinh về mặt xã hội cho khách hàng trong toàn bộ quy trình giải quyết tranh chấp hợp đồng.

Chúng tôi rất mong được hợp tác với quý khách hàng trong công việc.