Tư vấn quyền yêu cầu giám định và quyền trưng cầu giám định

1:55 PM GMT+7, Thứ năm, 05/04/2018
581

Phân tích quyền yêu cầu giám định theo Luật giám định tư pháp 2012 và Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Giám định đơn thuần là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động giải quyết vụ việc dân sự. Nó là biện pháp nghiệp vụ hỗ trợ quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Việc trưng cầu giám định chỉ được thực hiện theo yêu cầu của Tòa án, viện kiểm sát nhân dân.

Giám định là việc người giám định sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động giải quyết vụ việc dân sự theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định, theo quy định của pháp luật.

Theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để có kết luận giám định được tiến hành bằng hai hình thức gồm: Trưng cầu giám định và yêu cầu giám định. Trưng cầu giám định chỉ do Tòa án, người tiến hành tố tụng thực hiện. Còn yêu cầu giám định là quyền của đương sự sau khi đã đề nghị Tòa án, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận.

Tư vấn giám định thiệt hại trong vụ án dân sự

Kết luận giám định là nhận xét, đánh giá bằng văn bản của người giám định về đối tượng giám định theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định, được coi là chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ việc dân sự, nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do luật quy định. Trong thực tiễn các vụ việc dân sự có rất nhiều các trường hợp cần phải trưng cầu giám định như: giám định AND (xác nhận cha, mẹ, con); giám định chữ ký (hợp đồng, thừa kế); giám định thương tích (bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng)… thì kết luận giám định có tính chất quyết định đối với phán quyết của Tòa án. Kế thừa và phát triển các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) Bộ luật Tố tụng dân sự (Bộ luật tố tụng dân sự) năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 với những sửa đổi cơ bản về nguồn chứng cứ và thủ tục thu thập chứng cứ để đánh giá tính hợp pháp của kết luận giám định. Mà theo đó, việc trưng cầu giám định, yêu cầu giám định Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có quy định như sau:

“1. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

2. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.

3. Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết.

4. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.

5. Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật giám định tư pháp.”

Theo đó Điều 90 của Bộ luật tố tụng dân sự chỉ quy định về trưng cầu giám định, mà không đề cập đến trường hợp quyền tự yêu cầu giám định của đương sự. Nên khi đương sự có yêu cầu tự giám định thì sẽ áp dụng theo khoản 3 Điều 2 Luật Giám định tư pháp năm 2012 1uy định: “Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.”. Để phù hợp với Luật giám định tư pháp năm 2012, ngoài việc đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định như Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định, khi đương sự đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự thì đương sự có thể yêu cầu giám định. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự. Mục đích của biện pháp này là trưng cầu ý kiến thẩm định của các chuyên gia, các nhà khoa học trên các lĩnh vực chuyên ngành để thẩm định tính đúng đắn, chân thực của các chứng cứ do các đương sự cung cấp, góp phần giúp thẩm phán có thể nhận định đúng và đưa ra quan điểm chính xác đối với vụ án. Đây là bước tiến đáng kể trong hoạt động tư pháp theo tinh thần cải cách tư pháp, tăng cường dân chủ hóa hoạt động tố tụng, góp phần mở rộng quyền tự do dân chủ của công dân, hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định liên quan đến trưng cầu giám định, yêu cầu giám định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, cũng như thực tiễn áp dụng phát sinh những vướng mắc, khó khăn việc thu thập chứng cứ là kết luận giám định, như chưa quy định rõ giới hạn thời hạn giám định; giám định tối đa mấy lần trong một vụ án; chưa có cơ chế giải quyết khi có nhiều kết luận giám định mâu thuẫn nhau; pháp luật bỏ ngỏ chế tài áp dụng đối với đương sự không chấp hành quyết định về trưng cầu giám định của Tòa án; cơ sở pháp lý nào để chứng minh việc đương sự thực hiện quyền tự yêu cầu giám định của đương sự, nếu Tòa án từ chối cung cấp;…

Trưng cầu giám định và yêu cầu giám định về cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau ở chủ thể yêu cầu. Trưng cầu giám định là việc Tòa án, Viện kiểm sát ra quyết định trưng cầu giám định. Yêu cầu giám định là đương sự yêu cầu cơ quan tổ chức tiến hành hoạt động giám định theo quy định của Luật giám định tư pháp. Bên cạnh đó, Điều 263 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Thẩm phán chỉ quyết định trưng cầu giám định khi biện pháp trưng cầu xác nhận hoặc ý kiến tư vấn của chuyên gia không đủ làm sáng tỏ vấn đề mà Thẩm phán cần giải quyết”. Các quy định về trưng cầu giám định trong Bộ luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp đều được thiết kế theo hướng dành quyền chủ động cho Thẩm phán nhằm xác định những thông tin xác thực liên quan đến kiến thức chuyên môn.

Như vậy, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã dung hòa điều kiện áp dụng bên cạnh việc trao quyền cho đương sự thì trong những trường hợp cần thiết đảm bảo tính đúng đắn cho việc giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án được quyền chủ động áp dụng. Cụ thể, Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, hoạt động giám định trong tố tụng dân sự có thể tiến hành trong các trường hợp sau: Các đương sự thỏa thuận lựa chọn biện pháp giám định và yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định; một trong các bên đương sự yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định; trong trường hợp Tòa án từ chối trưng cầu giám định thì đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định.

Theo sự thỏa thuận của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Sự thỏa thuận lựa chọn hoặc yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định phải được thể hiện bằng văn bản, có thể làm bằng văn bản riêng, có thể ghi trong bản khai, có thể ghi trong biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất… Thẩm phán căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Giám định tư pháp 2012 để tiến hành trưng cầu giám định.

Trong trường hợp Tòa án từ chối trưng cầu giám định thì đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật Giám định tư pháp năm 2012: “Người yêu cầu giám định có quyền gửi văn bản yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định. Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không chấp nhận yêu cầu thì trong thời hạn 07 ngày phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản. Hết thời hạn nói trên hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định”. Căn cứ vào quy định này, trong vụ án dân sự, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thụ lý vụ án trưng cầu giám định và nếu trong trường hợp Tòa án từ chối trưng cầu giám định thì đương sự có quyền tự yêu cầu giám định. Như vậy, điều kiện để đương sự thực hiện quyền tự giám định trong vụ việc dân sự là Tòa án thụ lý vụ án từ chối trưng cầu giám định và việc thực hiện quyền phải trong thời hạn trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, tức là trong thời gian chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.