Thay đổi hộ khẩu: Nên nhập hay cắt hộ khẩu trước?

2:48 PM GMT+7, Thứ ba, 27/06/2017
1920

 Xung quanh vấn đề nhập hộ khẩu đến địa chỉ mới có khá nhiều tranh cái. Ở một số địa phương lại có những cách áp dụng luật rất khác nhau. Có nơi yêu cầu phải có xác nhận chuyển hộ khẩu từ nơi cũ trước mới cho nhập khẩu nơi mới, cũng có nơi giải thích phải có xác nhận của nơi mới đồng ý cho nhập hộ khẩu thì mới cho làm thủ tục chuyển từ nơi cũ. Điều này dẫn đến việc người dân không biết nghe theo nơi nào? Nơi cũ, nơi mới, mỗi nơi áp dụng một kiểu gây khó khan cho người dân. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ vấn đề này.

 Theo quy định của Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành thì hướng dẫn về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú cũ làm thủ tục cấp giấy chuyển hộ khẩu thì sau đó mới làm được thủ tục đăng ký thường trú tại nơi mới là đúng.

Ngay trong hướng dẫn tại Khoản 1, Điều 6, Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 có nêu rõ hồ sơ xin nhập hổ khẩu mới bao gồm các giấy tờ sau:

- Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;

- Bản khai nhân khẩu (đối với trường hợp phải khai bản khai nhân khẩu);

- Giấy chuyển hộ khẩu (đối với các trường hợp phải cấp giấy chuyển hộ khẩu quy định tại Khoản 2 Điều 28 Luật Cư trú);

- Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ  ở hợp pháp quy định tại Điều 6 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú.

Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý cho đăng ký thường trú vào chỗ ở của mình và ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên; trường hợp người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đã có ý kiến bằng văn bản đồng ý cho đăng ký thường trú vào chỗ ở của mình thì không phải ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu.

Đối với chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ tại thành phố trực thuộc Trung ương phải có xác nhận của UBND cấp xã về điều kiện diện tích bình quân bảo đảm theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương.

Trường hợp có quan hệ gia đình là ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, cháu ruột chuyển đến ở với nhau; người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng, người khuyết tật mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với người giám hộ thì không phải xuất trình giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp nhưng phải xuất trình giấy tờ chứng minh hoặc xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn về mối quan hệ nêu trên.

Tại Khoản 2, Điều 8, Thông tư 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 quy định hồ sơ cấp giấy chuyển hộ khẩu gồm: Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; Sổ hộ khẩu (hoặc sổ hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể đã được cấp trước đây).

 

Nếu còn bất cứ thắc mắc nào liên quan đến pháp luật hãy liên hệ ngay với chúng tôi theo tổng đài 19006196 để được tư vấn.

Tổng đài tư vấn pháp luật