Tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo Bộ luật TTDS năm 2015

12:43 PM GMT+7, Thứ sáu, 07/07/2017
1564

 Tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo Bộ luật TTDS năm 2015

 

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016, trong đó có quy định về việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án như sau:

Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 214 Bộ luật TTDS 2015. Cụ thể:

a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;

Trường hợp đương sự là cá nhân đã chết chưa có cá nhân khác có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định Khoản 2, 3 Điều 69 Bộ luật này kế thừa tham gia tố tụng.

Trường hợp cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng đó là trường hợp đã có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc hợp nhất, sáp nhập, chia, tách cơ quan, tổ chức đó, nhưng cơ quan, tổ chức mới chưa được thành lập hoặc đã được thành lập nhưng chưa có đầy đủ điều kiện để hoạt động theo quy định của pháp luật đối với loại hình cơ quan, tổ chức đó.

Trường hợp cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó là trường hợp chưa xác định được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại điểm a, b Khoản 2, Khoản 5 Điều 74 của Bộ luật này.

b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

Đại diện hợp pháp của đương sự, của người chưa thành niên bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền, được quy định tại Điều 136 (Đại diện theo pháp luật của cá nhân); Điều 137 (Đại diện theo pháp luật của pháp nhân) và Điều 138 (Đại diện theo ủy quyền) của Bộ luật Dân sự 2015. Người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện.

                                                                         

 

c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;

Việc chấm dứt đại diện hợp pháp ở đây là do pháp nhân hoặc cá nhân chấm dứt hoặc thời hạn ủy quyền đã hết; người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối thực hiện việc ủy quyền… mà chưa có người thay thế.

d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;

đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;

e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;

g) Theo quy định tại điều 41 của Luật phá sản;

h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc , kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự , Tòa án phải gửi quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp. 

Theo quy định của Điều 216 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn, thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp

 --PhanPhuong--