Cập nhật: 10:02 PM GMT+7, Thứ năm, 26/02/2015
Nguồn tin:Công ty luật SP
  • Font
  • In bài
  • Gửi cho bạn bè
  • Ý kiến

Quốc hội khoá XIII vừa thông qua Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp (DN) thu hút vốn đầu tư; giảm bớt khó khăn về vốn, từng bước phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh (SXKD).


Luật sửa đổi bổ sung 7 Luật thuế hiện hành gồm: Luật thuế TNDN, luật thuế GTGT, luật thuế TNCN, luật thuế XNK, luật thuế tài nguyên, luật thuế tiêu thụ đặc biệt, luật quản lý thuế

>> 71/2014/QH13 luật sửa đổi bổ sung các luật thuế

Đây là Luật sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng của 06 Luật Thuế hiện hành, có tác động đáng kể đến các hoạt động SXKD của DN, hộ kinh doanh và dân cư trên địa bàn nhằm đạt được các mục tiêu lớn là hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn, tập trung khai thác và tận dụng lợi thế của nền nông nghiệp, góp phần xây dựng và phát triển khu nông nghiệp công nghệ cao, tạo môi trường thuận lợi thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư; đảm bảo mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với xu hướng phát triển và các cam kết quốc tế, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DN Việt Nam; đẩy mạnh đơn giản thủ tục hành chính về thuế, tăng tính minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, phù hợp với xu thế cải cách hệ thống thuế; đảm bảo tính nhất quán của chính sách, tập trung sửa đổi, bổ sung những vấn đề bất cập so với thực tế, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật thuế hiện hành và động viên hợp lý để phát triển nguồn thu cân đối ngân sách Nhà nước (NSNN).

Nội dung sửa đổi quan trọng của luật này là thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hộ kinh doanh: Theo quy định hiện nay, thuế TNCN của hộ kinh doanh được xác định căn cứ trên thu nhập chịu thuế tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu hoặc doanh thu tính thuế được xác định theo kê khai trừ chi phí kinh doanh; hộ kinh doanh được tính giảm trừ gia cảnh khi xác định thu nhập tính thuế và được xác định theo biểu thuế lũy tiến từng phần.

Từ ngày 01/01/2015, hộ kinh doanh nộp thuế TNCN theo tỷ lệ trên doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành nghề SXKD như sau: Phân phối, cung cấp hàng hóa: 0,5%; dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2%; cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp: 5%; sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 1,5%; hoạt động kinh doanh khác: 1%. Hộ kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống không phải chịu thuế TNCN.

Áp dụng 01 mức thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần thay cho thực hiện 02 phương pháp tính thuế trước đây và không quyết toán thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán. Áp dụng 01 mức thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng từng lần đối với chuyển nhượng bất động sản thay cho thực hiện 02 phương pháp tính thuế trước đây.

Đối với thuế Giá trị gia tăng (GTGT), chuyển mặt hàng phân bón; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; tàu đánh bắt xa bờ; thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác từ đối tượng chịu thuế suất 5% sang đối tượng không chịu thuế GTGT.

Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với thuế thu nhập của DN từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến nông, thủy sản ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và thu nhập từ hoạt động đánh bắt hải sản. Bổ sung thu nhập chịu thuế TNDN đối với thu nhập từ chuyển nhượng quyền góp vốn; chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư; chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản,  kể cả thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ.

Áp dụng thuế suất ưu đãi 10% đối với thu nhập từ hoạt động chế biến nông, thủy sản của DN tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Áp dụng thuế suất 15% đối với thu nhập của DN trồng trọt, chăn nuôi, chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản; trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn. Kéo dài thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi đối với dự án cần đặc biệt thu hút đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao nhưng thời gian kéo dài thêm không quá 15 năm.

Để công nghiệp hỗ trợ trong nước trở thành trụ cột thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, thúc đẩy sự phát triển của DN trong nước, luật đã bổ sung: Áp dụng ưu đãi thuế suất 10% trong 15 năm, miễn 4 năm kể từ khi có thu nhập và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển.

Bỏ quy định khống chế đối với chi quảng cáo, khuyến mại... nhằm khuyến khích DN phát triển thị trường. Đồng thời, để tháo gỡ khó khăn cho DN, luật này bỏ bảng kê hóa đơn hàng hóa mua vào, bán ra trong hồ sơ khai thuế tháng, khai thuế quý thuế GTGT và thuế tiêu thụ đặc biệt; bỏ mức phạt chậm nộp 0,07% tính trên số tiền chậm nộp thuế đối với số thuế chậm nộp trên 90 ngày, giữ mức phạt chậm nộp 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền chậm nộp. Trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ bằng vốn NSNN nhưng chưa được thanh toán nên không có nguồn nộp kịp thời các khoản thuế dẫn đến nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền thuế nợ phát sinh trong thời gian NSNN chưa thanh toán.

Đối với thuế tài nguyên, miễn thuế đối với nước thiên nhiên do hộ gia đình, cá nhân khai thác phục vụ sinh hoạt..../.

Phòng tư vấn pháp luật


Nguồn tin:Công ty luật SP
  • Font
  • In bài
  • Gửi cho bạn bè
  • Ý kiến
[Quay lại PL thuế]