Phân biệt hành vi tội phạm và hành vi không phải là tội phạm

3:19 PM GMT+7, Chủ nhật, 18/06/2017
204

 Vì sao phải phân biệt hành vi tội phạm và hành vi không phải là tội phạm? Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm pháp lý mà người có hành vi phải chịu.

 Theo điều 8 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2015 khái niệm về tội phạm được quy định như sau:

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Từ những khái niệm trên đây có thể thấy hành vi bị coi là tội phạm được phân biệt với hành vi không phải là tội phạm thông qua 4 dấu hiệu:

- Tính nguy hiểm cho xã hội: đây là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm, là căn cứ để phân biệt hành vi là tội phạm với những hành vi vi phạm khác, là cơ sở đánh giá mức độ nghiêm -trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội về khách quan có nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội (QHXH)  được Luật hình sự bảo vệ, đó là những QHXH có tính tương đối quan trọng hoặc quan trọng khi bị xâm hại có thể gây ra thiệt hại hoặc ảnh hưởng đáng kể cho xã hội. Khi xem xét tính chất nguy hiểm cho XH ko đáng kể thì ko đc coi là tội phạm va đc xư lý bằng biện pháp khác.

- Tính có lỗi: là thái độ chủ quan của con người với hành vi nguy hiểm cho XH của mình và với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý, vô ý.

Người bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu hành vi ấy là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện quyết định thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của XH. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã bao gồm cả tính có lỗi nên tính có lỗi ko là dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho XH.

-  Tính trái PL hình sự: theo điều 2 BLHS 2015 quy định như sau

1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Nghĩa là hành bị coi là tội phạm nếu nó được quy định trong bộ luật hình sự, tính trái pháp luật hình sự là dấu hiện biểu hiện về mặt hình thức pháp lý của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội trong mối quan hệ biện chứng nội dung và hình thức, tính trái pháp luật hình sự  tuy có tính độc lập tương đối nhưng vân là dấu hiệu được xác định bởi dấu hiệu tính nguy hiểm cho XH

- Tính phải chịu hình phạt:  là dấu hiệu kèm theo của tính nguy hiểm cho XH và tính trái pháp luật hình sự,  tính chịu hình phạt được coi là dấu hiệu của tội phạm vì chỉ có hành vi pham tội mới phải chịu hình phạt, không có tội phạm thì cũng không có hình phạt. 

Trên đây là những phân tích cơ bản nhất của chúng tôi về khái niệm tội phạm, hành vi tội phạm.

Quý khách cần hỗ trợ thêm thông tin vui lòng liên hệ số tư vấn 19006196