Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trường hợp bất khả kháng

3:42 PM GMT+7, Thứ hai, 26/03/2018
1551

Hướng dẫn soạn thảo điều khoản về sự kiện bất khả kháng và yêu cầu bồi thường thiệt hại xảy ra tại Hợp đồng kinh doanh thương mại, hợp đồng hợp tác kinh doanh. Các bạn lưu ý sự kiện bất khả kháng chỉ là điều kiện cần khi xem xét điều kiện miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Điều kiện đủ Luật sư nói đến được quy định trong Bộ luật dân sự 2015 theo các phân tích dưới đây:

Bộ luật Dân sự năm 2015 có nhiều sự thay đổi cơ bản liên quan đến chế định trách niệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đây là một trong những chế định pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong đời sống dân sự nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi có thiệt hại xảy ra. Là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong phạm vi bài viết này, luật sư phân tích quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015, đó là, “sự kiện bất khả kháng”;

Lỗi trong trách nhiệm dân sự Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định dựa trên nguyên tắc suy đoàn lỗi hay nhà làm luật đã xác định sẳn. Thiết nghĩ, mấy vấn đề này cần được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần kịp thời ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thống nhất về nhận thức và áp dụng trong thực tiễn.

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, như sau:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

So với Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung theo hướng hợp lý hơn với thực tế phát sinh tranh chấp. Theo quy định tại khoản 5 Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015, một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải Bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm Bồi thường thiệt hại, đó là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”. Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo hướng có lợi hơn cho người bị thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm Bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện: i) Có thiệt hại xảy ra; ii) Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật; iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.

+ Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại về tinh thần. Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định. Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lòng tin… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.

+ Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm: Làm những việc mà pháp luật cấm, không làm những việc mà pháp luật buộc phải làm, thực hiện vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định.

+ Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại. Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên. Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại.

Về điều kiện để phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là phải có lỗi của người gây thiệt hại, khoản 3 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung thêm so với Bộ luật dân sự 2005 căn cứ phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại là “tài sản gây thiệt hại”. Quy định này nhằm mục đích bù đắp phần nào thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người bị thiệt hại, dù người quản lý hợp pháp tài sản đó không có lỗi nhưng thiệt hại thực tế do tài sản đó gây ra là có thật.

Đáng chú ý, tại khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định thêm trường hợp do “sự kiện bất khả kháng” hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì không bên gây thiệt hại không phải bồi thường, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bồi thường hoặc luật có quy định khác.

Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 (thay thế khoản 1 Điều 161 Bộ luật dân sự năm 2005), “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra thì bên gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm dân sự Bồi thường thiệt hại. Thế nhưng với định nghĩa như vậy, khi liên hệ với thực tế trong nhiều trường hợp nhận diện “sự kiện bất khả kháng” là điều không đơn giản. Một sự biến xảy ra phải hội tụ đủ những điều kiện nào mới được coi là “sự kiện bất khả kháng”? Một hiện tượng xã hội xảy ra như đình công, biểu tình,… có phải là “sự kiện bất khả kháng” không?.

Về khái niệm thì: Sự kiện bất khả kháng bao gồm mưa, giông, bão, lốc, lụt, sấm sét, hạn hán, động đất, chiến tranh, phá hoại và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên để coi một sự biến là một trường hợp “bất khả kháng”, theo Bộ luật dân sự năm 2015, phải có 03 điều kiện.

Một là, đây phải là “sự kiện xảy ra một cách khách quan”. Sự kiện này có thể là sự kiện tự nhiên như thiên tai, nhưng cũng thể là do con người gây ra như hành động của một người thứ ba. Về tính “khách quan”, trong thực tế giới hạn giữa “khách quan” và “không khách quan” đôi khi rất mỏng manh. Khi một doanh nghiệp không thể thực hiện được hợp đồng đối với đối tác của mình do công nhân của doanh nghiệp đình công thì có được coi là một sự kiện xảy ra một cách khách quan không? Theo người viết, câu trả lời là không.

Hai là, đây phải là sự kiện “không thể lường trước được” tại thời điểm giao kết hợp đồng nhưng xảy ra sau thời điểm này. Các bên có thể không lường trước được một sự kiện xảy ra tại thời điểm giao kết. Trong trường hợp như vậy thì chúng ta không áp dụng chế định liên quan đến bất khả kháng. Ví dụ, Công ty A nhận vận chuyển một lô hàng cho Công ty B bằng tàu C. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, tàu C đang được sử dụng ở ngoài khơi và bị đắm chìm nhưng việc này chưa được thông báo về Công ty. Như vậy, các bên không lường được sự kiện làm cản trở thực hiện hợp đồng nhưng xảy ra tại thời điểm giao kết. Ở đây, không áp dụng chế định “bất khả kháng” mà vận dụng những quy định liên quan đến giao kết hợp đồng.

Ba là, sự việc xảy ra “không thể khắc phục” được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết.

Nhìn chung, vấn đề bất khả kháng còn quy định rất chung chung, thậm chí là khó hiểu cũng như không bao quát được các trường hợp trong thực tế. Điều này sẽ dẫn tới những kết quả xét xử khác nhau của Tòa án với cùng một sự biến pháp lý, bởi nếu xác định đúng là “sự kiện bất khả kháng” thì người gây thiệt hại không phải chịu trách bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật quy định khác.

-----------------------------------------------------------------------------------------------

Nội dung hữu ích

>> Dịch vụ soạn thảo hợp đồng uy tín

>> Dịch vụ luật sư tại Hà Nội