Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại

8:59 AM GMT+7, Thứ năm, 05/04/2018
2621

Luật sư cần nghiên cứu hồ sơ để xác định được quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên phát sinh từ loại hợp đồng nào( hợp đồng mua bán, hợp đồng uỷ thác, hợp đồng đại lý hay hợp đồng cho thuê hàng hoá…);quan hệ hợp đồng đó có thuộc lĩnh vực kinh doan, thương mại hay không. Cụ thể , chủ thể xác lập quan hệ có là các chủ htể có đăng kỹ kinh doanh, thực hiện hợp đồng nhằm mục đích lợi nhuận hay không.

(Ảnh minh họa)

Khi xác định được quan hệ pháp luật  cần giải quyết, Luật sư sẽ xác định được nguồn văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng, các nội dung cụ thể cần nghiên cứu và định hướng được tính khả thi của các yêu cầu khách hang nhờ luật sư bảo vệ.

Dù tranh chấp phát sinh từ loại hợp đồng nào, việc nghiên cứu hồ sơ cũng cần phải làm rõ được nội dung cơ bản sau.

- Hợp đồng được ký kết có hiệu lực pháp luật không?

Đây được coi là nội dung cơ bản nhất mà luật sư cần nghiên cứu. Quyền lợi của khách hàng trong quan hệ hợp đồng được bảo vệ đến mức độ nào phụ thuộc vào giá trị pháp lý của hợp đồng mà các bên đã ký kết. Nếu hợp đồng được pháp luật bảo vệ, nếu hợp đồng vô hiệu thì Toà án sẽ giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu chứ không xem xét đến việc giải quyết các yêu cầu cụ thể của bên kia.

Để khẳng định hợp đồng có hiểu lực pháp luật hay không luật sư phải viên dẫn các quy định của BLDS 2005, xem xét văn bản này quy định như thế nào về hợp đồng vô hiệu (Điều 122,127,129,131,132,133,134,410). Ngoài ra, luật sư cũng cần xem xét xem ngoài BLDS 2005, quan hệ pháp luật tranh hcấp có chịu sự điều chỉnh của văn bản pháp luật đặc thù nào không, để xem xét thêm các dấu hiệu khác có thể làm hợp đồng bị vô hiệu, ví dụn quan hệ tranh hcấp từ hợp đồng kinh doanh bảo hiểm, hợp đồng hàng hải, hợp đồng vận chuyển bằng đường thuỷ nội địa… trên cơ đó, luật sư càn nghiên cứu về tư cách chủ thể ký kết hợp đồng, mục đích và nội dung của hợp đồng có vi phạm điều cấm của pháp luật không, người ký hợp đồng có tự nguyện không, quan hệ hợp đồng có được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấy một giao dịch khách không( đây là điểm luật sư cần hết sức lưu ý bời trong kinh doanh trường hợp các bên xác lập các giao dịch giả toạ nhằm lách luật để hưởng lợi không ít), có bị nhậm lẫn về đối tượng của hợp đồng hay không,khi xác lập quan hệ hợp đồng các bên có bị lừa đối, de doạ không… mặt khác luật sư về hình thức không, ví dụ buộc phải lập thành văn bản, buộc phải đăng ký hay buộc phải có công chứng nhà nước.

- Quyền và nghĩa vụ của các bên quy định trong hợp đồng như thế nào?

Khi đã xác định được hiệu lực pháp luật của hợp đồng luật sư đi sâu vào nghiên cứu các thoả thuận cụ thể trong hợp đồng về quyền và nghĩa vụ của các bên bởi ngoài các quy định của pháp luật, sự thoả thuận  của các bên trong hợp đồng, nếu không thì pháp luật là căn cứ để giải quyết tranh chấp giữa các bên. Khi đó, các thoả thuận trong hợp đồng có giá trị ràng buộc trách nhiệm của từng bên. Luật sư nghiên cứu kỹ các thoả thuận trong hợp đồng để tìm ra những thoả thuận nào có lợi, những thoả thuận nào bất lợi cho khách hàng. Ngoài ra, luật sư còn tìm kiếm những thoả thuận lỏng lẻo, chưa rõ ràng trong hợp đồng để gỡ lỗi cho khách hàng của mình.

Hợp đồng quy định như thế nào về các chế tài khi vi phạm hợp đồng

Thực tiễn cho thấy các yêu cầu mà khách hàng nhờ Luật sư bảo vệ luôn yêu cầu thể hiện việc thực hiện nghĩa vụ của một bên theo hợp đồng, bên cạnh đó bên bi phạm hợp đồng luôn đòi hỏi việc phạt hợp đồng và đòi bồi thường thệit hại đối với hành vi vi phạm, Căn cứ của việc đòi phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại là thoả thuận của các bên về chế tạo khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Dựa voà các quy định của pháp lậut và thoả thuận này của các bên, trên cơ sở đánh giá các yếu tố khác như nguyên nhân, mức độ vi phạm, toà án sẽ cân nhắc về mức phạt hợp đồng đối với bên vi pham, Vì vậy, để xác định đụơc mức phạt mà kháhc hàng đưa ra chấp nhận đến đâu hoặc mức độ phạt mà khả năng khách hàng của mình phải gánh chịu đến đâu, luật sư phải nghiên cứu về điều khoản phạt hợp đồng, xem xét mức phạt đó có phù hơp quy định của pháp luật hay không, các căn cứ để phạt hợp đồng có hợp lý không, nổ lực khắc phục thiệt hại của bên bị vi phạm và bên vi phạm hợp đồng như thế nào… Ví dụ: hợp đồng quy định “ trong trường hựop bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hang thì phải chịu phạt 10%  giá trịn hợp đồng bị vi phạm”. Trong trường hợp này, mức phạt 10% là không phù hợp với quy định của luật thương mại, cụ thể cao hơn mức pháp luật cho phép, vì vậy thoả thuận này không có giá trị. Khi đó luật sư cần xác định cho khách hàng mức phạt tối đa có thể được chấp nhận là 8%  giá trị nghĩa vụ bị vi phạm chứ không phải là 10% như thoả thuận của các bên.

- Quá trình thực hiện hợp đồng như thế nào? Ai vi phạm hợp đồng? Mức độ vi phạm như thế nào? Nguyên nhân dẫn đến vi phạm? Thiện chí thực hiện hợp đồng của các bên?

Hợp đồng ký kết giữa các bên chỉ là các trang giấy không có ý nghĩa nếu không được thực hiện trên thực tế. Đánh giá về mức độ được chấp nhận của các yêu cầu không đơn thuận chỉ dựa vào các quy định cụ thể trong hợp đồng mà còn dưaj vào quy trình thực hiện hợp đồng trên thực tế, là sự thể hiện sinh động của thoả thuận trên giấy bằng những hành vi cụ thể.

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện hợp đồng việc trao đổi, thương lượng lại của các bên về việc thực hiện các nghĩa vụ (ví dụng: dời thời gian giao hàng vào thời điểm khác so với thời gian ấn định trong hợp đồng..)được coi như là những thoả thuận mới, khi đó thoả thuận cũ của hợp đồng không còn hiệu lực vì vậy luật sư không nên cứng nhắc chỉ bám vào các thoả thuận có sẵn trong hợp đồng.

Luật sư cần nghiên cứu hợp đồng và các tài liệu thể hiện tư cách chủ thể ký kết hợp đồng, quá trình thực hiện hợp đồng( hồ sơ pháp nhân, giấy uỷ quyền, công văn trao đổi, hoá đơn chứng từ, biên bản giao nhận…).

Như đã đề cập ở trên, để kiểm tra hiệu lực pháp lý của hợp đồng ngoài việc xem tiêu đề của hợp đồng, thông tin về các bên trong quan hệ hợp đồng, luật sư còn phải kiểm tra tài liệu về tư cách chủ thể ký kết hợp đồng gồm giấy đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệm; biên bản bầu chức danh giám đốc, giấy uỷ quyền ký kết hợp đồng…

Để xác định được quyền, nghĩa vụ cụ thể của từng bên, đặc biệt là quyền, nghĩa vụ đang có tranh chấp, luật sư nghiên cứu hợp đồng ở các điều khoản thoả thuận cụ thể và nghiên cứu kỹ điều khoản liên quan trực tiếp đến tranh chấp. Ngoài ra, việc nghiên cứu hồ sơ sẽ hết sức phiến diện nêu luật sư chỉ nghiên cứu hợp đồng mà không nghiên cứu các tài liệu liên quan đến hợp đồng, ví dụ biên bản giao nhận, hoá đơn bán hàng và các tài liệu khác về việc thực hiện hợp đồng (công văn trao đổi thông báo giao hàng, văn bản đốc nợ, văn bản khiếu nại chất lượng hàng hoá, biện bản giám định…);

Khi nghiên cứu những tài liệu này, luật sư cũng cần có sự đối chiếu giữa các nội dụng của hợp đồng với các tài liệu thể hiện quá trình thực hiện hợp đồng để tìm ra sự tương thích, sự phù hợp giữa việc thoả thuận với việc thực hiện các thoả thuận này trên thực tế bởi không phải lúc nào các bên cũng thực hiện hợp đồng đúng như những gì ghi trong hợp đồng.