Cập nhật: 9:15 AM GMT+7, Thứ tư, 28/09/2016
Nguồn tin:Công ty Luật SP
  • Font
  • In bài
  • Gửi cho bạn bè
  • Ý kiến

Giá trị pháp lý của giấy vay nợ viết tay theo quy định pháp luật hiện hành. Luật sư xin trích dẫn quy định pháp luật mới nhất để cùng phân tích làm rõ


Giấy vay tiền viết tay, giấy nhận nợ viết tay là mẫu sử dụng phổ biến khi cho vay cá nhân, cho bạn bè vay hoặc vay dựa trên tín chấp của người vay. Nhiều trường hợp khi cho vay hai bên lập thành hợp đồng vay tiền viết tay.

Hiệu lực của giấy vay nợ viết tay

(Giấy vay nợ viết tay vẫn có giá trị - Ảnh minh họa)

Căn cứ theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hợp đông vay tài sản như sau: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Điều luật này không quy định bắt buộc về hình thức của hợp đồng vay tài sản và cũng không yêu cầu phải công chứng hoặc chứng thực đối với hợp đồng vay. Vì vậy, giấy vay nợ viết tay vẫn được coi là một hợp đồng vay tài sản và có giá trị pháp lý.

Căn cứ theo quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về nghĩa vụ trả nợ của người vay như sau: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn ”. Do đó, nếu người vay không thực hiện việc trả nợ cho bên cho vay theo đúng thời hạn ghi nhận trong giấy vay nợ thì bên cho vay có quyền khởi kiện người vay ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vay cư trú để yêu cầu tòa án giải quyết vụ việc và buộc người này phải hoàn trả tiền gốc và lãi vay (nếu có) cho bên cho vay.

Khi nộp hồ sơ khởi kiện, Bên cho vay phải nộp kèm bản chính giấy vay nợ viết tay cho tòa án theo quy định của Điều 84 Bộ luật Tố tụng dân sự. Giấy vay nợ viết tay sẽ được tòa án sử dung làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.

Việc Bên vay không thừa nhận chữ ký của mình trên giấy vay, thì người vay phải đưa ra chứng cứ để chứng minh (khoản 2 Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự) hoặc theo yêu cầu của đương sự tòa án sẽ tiến hành trưng cầu giám định đối với chữ ký của bên vay theo Điều 90 Bộ luật Tố tụng dân sự).

Phòng tư vấn pháp luật

-----------------------------------------------------------------------------------------------------

Nội dung hữu ích

>> Tư vấn soạn thảo giấy vay tiền, hợp đồng vay tiền

>> Mẫu giấy biên nhận nợ mới nhất 

>> thay đổi đăng ký kinh doanh

-----------------------------------------------------------------------------------------------------


Nguồn tin:Công ty Luật SP
  • Font
  • In bài
  • Gửi cho bạn bè
  • Ý kiến
[Quay lại PL dân sự]