Điều kiện để người phạm tội được miễn hình phạt

6:14 AM GMT+7, Thứ tư, 21/03/2018
1412

Tư vấn điều kiện để người phạm tội được Tòa án miễn hình phạt theo Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015. miễn hình phạt chỉ đặt ra cho những trường hợp nếu như việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) hay áp dụng hình phạt đối với họ là không cần thiết, không đạt được mục đích của hình phạt hoặc trái với nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam.

Miễn hình phạt là việc Tòa án không buộc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt về tội mà người đó đã thực hiện. Cũng giống như miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt chỉ đặt ra cho những trường hợp nếu như việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) hay áp dụng hình phạt đối với họ là không cần thiết, không đạt được mục đích của hình phạt hoặc trái với nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam.

Về lý luận thì hình phạt là hậu quả pháp lý của tội phạm, luôn gắn liền với tội phạm. Do đó, với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là điều không tránh khỏi. Nhưng trong thực tế, có những trường hợp phạm tội, nếu Tòa án áp dụng hình phạt đối với họ sẽ không đạt mục đích của hình phạt và như vậy việc áp dụng hình phạt đối với những trường hợp này là không cần thiết.

Kế thừa nội dung quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015, quy định về miễn hình phạt, như sau: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.”

Điều kiện xin miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội 2018

Nghiên cứu quy định trên cho thấy, người phạm tội có thể được Tòa án miễn hình phạt nếu người này thỏa mãn 03 điều kiện sau:

- Điều kiện thứ nhất, người phạm tội phải thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015

Theo quy định này, người phạm tội phải vừa thuộc khoản 1 vừa thuộc khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015. Mà theo đó, khoản 1 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, quy định:

“1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.”

- Điều kiện thứ hai, người phạm tội đáng được khoan hồng đặc biệt.

- Điều kiện thứ ba, người phạm tội chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự.

Khi xem xét điều kiện thứ nhất của Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015 thì quy định người phạm tội phải thỏa mãn điều kiện được quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, tức là người phạm tội phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét ấn định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đang áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề và phải thỏa mãn luôn cả nội dung quy định tại khoản 2 của Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, đồng thời là người giúp sức phạm tội lần đầu trong vụ án đồng phạm mà có vai trò không đáng kể. Đối chiếu với quy định tại điều kiện thứ nhất của Điều 54 Bộ luật hình sự năm 1999, cho thấy, nhà làm luật đã đặt ra quy định chặt chẽ hơn, mà theo đó, không chỉ dừng lại có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, mà kèm theo đó, phải được Hội đồng xét xử thống nhất quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, trên cơ sở từ hai hoặc nhiều hơn các tình tiết giảm nhẹ. Bởi trên thực tế, có nhiều trường hợp, tuy có đến ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, nhưng khi xem xét lượng hình, Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật theo Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999

Nghiên cứu các quan điểm trên cho thấy, lập luận và dẫn chiếu cơ sở pháp lý của mỗi quan điểm đều có nhân tố hợp lý. Tuy nhiên, với quan điểm thứ nhất lại không thỏa mãn về câu chữ quy định tại Điều 59 BLHS năm 2015, mà theo đó: Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này …Còn với quan điểm thứ hai, trái ngược với quan điểm thứ nhất, tỏ ra rất “trung thành” câu chữ mà nhà làm luật thể hiện trong nội dung quy phạm tại Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015, cụ thể, đó là liên từ “và” kết nối giữa cụm từ khoản 1 với cụm từ khoản 2. Nghĩa là, giữa các cụm từ này phải cùng song hành, đi đôi với nhau, nhờ mối liên kết bền vững bởi liên từ “và”. Theo quan điểm này, nếu ai đó lờ đi liên từ “và” là đã áp dụng pháp luật không chính xác. Nhưng ngược lại, sẽ rất thiệt thòi quyền lợi của người bị buộc tội mà lẽ ra họ được Tòa án xem xét cho miễn hình phạt.