Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

12:40 PM GMT+7, Thứ sáu, 07/07/2017
1179

Hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định. Dưới góc độ pháp lý thì hợp đồng dân sự được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.


Theo Điều 121 Bộ luật Dân sự thì giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Hành vi pháp lý đơn phương chỉ thể hiện ý chí của một bên chủ thể thì hợp đồng dân sự là sự thể hiện ý chí đa phương (ít nhất là hai bên chủ thể) thông qua sự thoả thuận, hay nói cách khác các bên phải thông nhất ý chí với nhau để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ. Theo quy định tại Điều 122 thì một giao dịch dân sự (gồm cả hợp đồng) được pháp luật thừa nhận có hiệu lực pháp lý khi đảm bảo các điều kiện sau:

 Điều kiện 1: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự (khoản 1).
Thuật ngữ “người” ở đây được hiểu là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự :cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác. Các chủ thể này phải có đủ tư cách chủthể theo qui định của pháp luật dân sự.
Xác định tư cách chủ thể thực chất là xác định ý chí (mong muốn) đích thực của các chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự, nếu không đảm bảo tư cách chủ thể thìkhông thể hiện hết yếu tố ý chí nên giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu. Do vậy,năng lực hành vi dân sự của từng chủ thể được xem xét như sau:
* Đối với cá nhân: giao dịch dân sự có hiệu lực khi phù hợp với mức độ hành vi dân sự của cá nhân bởi lẽ, bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia vào giao dịch đó. Trong xã hội những cá nhân khácnhau có những nhận thức khác nhau về hành vi và hậu quả của hành vi do họ thựchiện. Việc nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân dựa vào ý chí - lý trí - độ tuổi nghĩa là “khả năng hiểu và làm chủ của chính họ”. Như vậy, xem xét tư cách của chủthể của cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định yếu tố ý chí, nên Bộ luậtDân sự qui định năng lực hành vi của cá nhân với nhiều mức độ khác nhau tương ứngvới mức độ thể hiện mong muốn của họ.
+ Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên có khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi của mình có quyền tự mình tham gia mọi giao dịch dân sự , bởi lẽ những người này khi tham gia các giao dịch dân sự họ có khả năng tự mình thể hiện mong muốn đầyđủ, toàn diện.

+ Đối với người đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có quyền tự mình tham gia giao dịch dân sự nhỏ phục vụ nhu cầu hàng ngày. Đối với những giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị nhỏ họ có đủ khả năng nhận thức mà không cần thông qua người đại diện như học sinh (13 tuổi) mua đồ dùng học tập có thể nhận thức được giá cả, chất lượng, đối với những giao dịch dân sự có giá trị lớn thì phải thông qua người đại diện theo pháp luật mới coi là hợp pháp, nếu không thì giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu.
+ Đối với người mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự thì trong một số trường hợp họ có thể thực hiện những hành vi nhưng pháp luật không cho phép họ tự mình tham gia giao dịch dân sự mà phải thông qua người đạidiện theo pháp luật. Đối với những người này do họ không có hoặc chưa có khả năng nhận thức để xác lập giao dịch dân sự, do vậy ý chí của hộ trong giao dịch dân sự chính là ý chí của người đại diện theo pháp luật. Pháp luật qui định người đại diện phải có đủ tư cách mới được đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự, ngườikhông có năng lực hành vi dân sự trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự .
+ Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ vẫn có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi nhưng khi có những căn cứ tuyên bố bị hạn chế nănglực hành vi dân sự và có yêu cầu thì Toà án tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người này phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý mới có hiệu lực pháp luật, nếu không có sự đồng ý thì giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu. Qui định của pháp luật dân sự nhằm đảm bảo sự kiểm soát của người đại diện theo pháp luật, hạn chế việc tẩu tán tài sản để hút sách hoặc xác lập hợp đồng trong tình trạng lên cơn nghiện nên không thể nhận thức được toàn diệnđược.
Đối với trường hợp xác lập các giao dịch dân sự vào đúng thời điểm không thể nhận thức, điều khiển được hành vi của mình, thì có thể yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.
- Trong các giao dịch dân sự có đối tượng là tài sản thuộc sở hữu chung, hợp nhất của nhiều người thì việc xác lập giao dịch dân sự ngoài đảm bảo tư cách chủ thể của mình còn phải có đủ tư cách đại diện cho các đồng sở hữu chủ khác. Chẳng hạn: bán nhà thuộc sở hữu chung hợp nhất phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủ sở hữu, việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn phải được vợ, chồng bàn bạc thoả thuận (Điều 28, khoản 3 Luật Hôn nhân - gia đình). Trong trường hợp này nếu chỉ có một người đứng ra xác lập thực hiện giao dịch dân sự thì phải được sự uỷ quyền hoặc đồng ý của các chủ đồng sở hữu khác. Nếu không được sự đồng ý mà tự mình định đoạt toàn bộ tài sản chung hợp nhất thì phần giao dịch dân sự có thể vô hiệu (toàn bộ hoặc một phần).
* Đối với các chủ thể khác như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì phải bảo đảm tư cách chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự. Khi tham gia giao dịch dân sự các chủ thể này thông qua người đại diện (đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền). Y chí của các chủ thể này trong giao dịch dân sự chính là ý chí của người đại diện hợp pháp phù hợp với phạm vi, mục đích hoạt động do pháp luật qui định. Trong trường hợp giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền xác lập, thực hiện hoặc do người đại diện xác lập vượt quá thẩm quyền thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện mà đây chính là trách nhiệm của cá nhân đã xác lập, trừ trường hợp người được đại diện chấp thuận. Đối với hộ gia đình thì người đại diện theo pháp luật là chủ hộ, nhưng pháp luật chỉ cho phép chủ hộ đại diện hợp pháp trong một số quan hệ liên quan đến quyền sử dụng đất, sản xuất nông-lâm- ngư nghiệp, vay vốn,...còn đối với các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản khác không coi là người đại diện theo pháp luật.
 Như vậy, xác định tư cách chủ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định ý chí đích thực của các chủ thể, đây là cơ sở xác định giá trị pháp lý của giao dịch dân sự.

 Điều kiện 2: Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của phápluật, không trái đạo đức xã hội (Khoản 2)
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà các bên mong muốn đạt tới khi xáclập giao dịch dân sự.
 Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản cam kết trong giao dịch,qui định các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể.
Trong trường hợp giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm qui định của pháp luật dân sự nói riêng, pháp luật nói chung hoặc trái đạo đức xã hội thì khôngđược thừa nhận, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên : mua bántài sản pháp luật cấm (mua bán đất đai, ma tuý), cho vay tiền để đánh bạc, đòi cáckhoản tiền do việc bán dâm, đánh bạc mang lại.
 Điều kiện 3: Người tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện (Khoản 3)
Bản chất của quan hệ dân sự mang yếu tố ý chí, đó là sự thống nhất ý chí của cácchủ thể tham gia. Do vậy, muốn xác định các chủ thể có tự nguyện hay không cầndựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai yếu tố : ý chí và bày tỏ ý chí. Đây là hai mặt của một vấn đề có quan hệ khăng khít với nhau. Sự tự nguyện hoàn toàn đó chính là sự thống nhất ý chí bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài; chỉ khi sự biểu lộ ýchí ra bên ngoài phản ánh khách quan, trung thực những mong muốn bên trong của các chủ thể mới coi là tự nguyện. Nếu thiếu sự tự nguyện thì trái với bản chất của giao dịch dân sự và giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu trong trường hợp sau :
+ Giao dịch dân sự giả tạo: là giao dịch dân sự nhằm che dấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che dấu vẫn có hiệu lực nếu giao dịch đó tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực được qui định tại Điều 121, trừ trường hợp giao dịch đó không nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên thì cũng vô hiệu. Chẳng hạn: hai bên xác lập hợp đồng mua bán tài sản, nhưng thực chất là tặng cho (còn gọi là hợp đồng giả cách) thì hợp đồng tặng cho vẫn có giá trị pháp lý hoặc trường hợp để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hai bên xác lập hợp động mua bán tài sản nhưng thực chất bên kia chỉ giữ hộ tài sản mà không làm phát sinh quyền và nghĩavụ theo hợp đồng mua bán (còn gọi là hợp đồng tưởng tượng). Như vậy, giả tạo cònđược hiểu là không có sự thoả thuận và thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát sinh một quan hệ hợp đồng thực tế mà những loại giao dịch này thường nhằm mục đích che dấu, trốn tránh pháp luật.
+ Giao dịch dân sự được xác lập do nhầm lẫn là trường hợp các bên hình dung sai về chủ thể hoặc nội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia. Do nhầm lẫn mà làm mất đi tính chất thoả thuận không phải làmong muốn đạt tới. Nhầm lẫn có thể dưới những dạng sau:
- Nhầm lẫn chủ thể.
- Nhầm lẫn nội dung của giao dịch do hình dung sai về chất lượng, nhầm lẫn về đối tượng, giá cả 
 Nguyên nhân của sự nhầm lẫn thường do các bên thiếu sự rõ ràng về các điều khoản của hợp đồng hoặc do kém hiểu biết về đối tượng của giao dịch nhất là đối tượng liên quan kỹ thuật.
+ Giao dịch dân sự được xác lập do bị lừa dối, đe doạ .
Lừa dối là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó. Do vậy, khác với nhầm lẫn thì lừa dối do thủ đoạn cố ý của một bên làm cho bên kia tin tưởng nên thúc đẩy việc xác lập giao dịch dân sự.
Tuy nhiên, việc xác định lừa dối trong thực tiễn hết sức khó khăn, thông thường dựa vào các căn cứ sau:
Theo qui định của Luật Dân sự các nước thì phân thành lừa dối trực diện ( giao dịch vô hiệu) và lừa dối không trực diện (giao dịch có thể bị vô hiệu) (Luật dân sự Pháp).
Giao dịch dân sự được xác lập do bị đe doạ.
Đe doạ trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý, có ý thức của một bên làm cho bênkia sợ hãi mà phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh những thiệt hại về tínhmạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của những người thânthích. Giao dịch dân sự được xác lập do bị đe doạ không phù hợp với lợi ích của bên bị đe doạ, nói cách khác thiếu sự thể hiện ý chí đích thực của các chủ thể tham giagiao dịch. Các căn cứ để xác định giao dịch dân sự có sự đe doạ bao gồm:
Điều kiện về hình thức chỉ là điều kiện có hiệu lực khi pháp luật có quy định phải đảm bảo điều kiện hình thức (khoản 4 Điều 121)
Quý vị cần tham khảo thêm dịch vụ và tham khảo ý kiến luật sư qua điện thoại có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật 19006196. Công ty luật SP luôn sẵn sàng đón nhận các cuộc gọi từ quý vị.