Cập nhật: 12:01 AM GMT+7, Thứ năm, 11/07/2013
Nguồn tin:Công ty Luật S&Partners
  • Font
  • In bài
  • Gửi cho bạn bè
  • Ý kiến

Cách xác định tài sản chung khi ly hôn mới nhất được cập nhật bởi Công ty Luật SPlaw. Chúng tôi xin trích dẫn các quy định của Luật hôn nhân gia đình và nghị quyết của hội đồng thẩm phán để làm rõ vấn đề liên quan cho bạn đọc tiện nắm bắt


(Giải đáp pháp luật qua điện thoại đảm bảo uy tín cao - Ảnh minh họa)

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.

Theo đó, điểm b mục 3 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cụ thể:

Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32 (ví dụ: được thừa kế riêng một khoản tiền và dùng khoản tiền này mua cho bản thân một chiếc xe môtô mà không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng). Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.

Như vậy, trường hợp các tài sản có giá trị lớn (như xe máy, xe ô tô, doanh nghiệp…) mặc dù một người đứng tên chủ sở hữu song nếu những tài sản này hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn được coi là tài sản chung của vợ chồng bạn. Nếu phát sinh tranh chấp đối với khối tài sản này, người đứng tên phải có chứng cứ chứng minh tài sản này là tài sản riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

SPlaw



Nguồn tin:Công ty Luật S&Partners
  • Font
  • In bài
  • Gửi cho bạn bè
  • Ý kiến

Dự án đã thực hiện