Các trường hợp con nuôi không được hưởng thừa kế

2:48 PM GMT+7, Thứ ba, 27/06/2017
1734

 Con nuôi sau khi hoàn thành thủ tục nhận nuôi sẽ có quyền như con đẻ kể cả với trường hợp thừa kế theo pháp luật tài sản của cha mẹ để lại. Tuy nhiên với những trường hợp con nuôi đã chung sống lâu dài với bố mẹ nuôi, thậm chí có sự làm chứng của người xung quanh mà chưa làm thủ tục nhận nuôi con nuôi thì cũng không được hưởng thừa kế theo pháp luật giống như con đẻ.

 Đăng ký thủ tục nhận con nuôi là căn cứ quan trọng đối với việc xác định quyền nghĩa vụ đối với cha mẹ sau này, ví dụ như trường hợp thừa kế tài sản của bố mẹ được nêu ở dưới đây.

Thứ nhất, Quyền được hưởng thừa kế của người con nuôi được pháp luật quy định rất cụ thể: 
Cha mẹ qua đời không để lại di chúc nên di sản được chia theo pháp luật, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của cha mẹ (Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005).
 
 
Pháp luật Việt Nam công nhận quyền của con đối với di sản do cha, mẹ để lại, không phân biệt con đẻ hay con nuôi. 
Thứ hai, người con nuôi có được công nhận là con nuôi theo đúng quy định của pháp luật.
Việc nuôi con nuôi phải được sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy định này không chỉ đến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 mà đã được quy định trong các văn bản luật trước đây. Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “Việc nhận nuôi con nuôi phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch”. Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng quy định: “Việc cử người đỡ đầu (người nuôi con nuôi) do UBND xã, phường, thị trấn công nhận”.
Theo Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“Điều 78. Quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi
1. Cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi có quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định trong Luật này kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật Nuôi con nuôi”.
Theo quy định tại Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì việc đăng ký nuôi con nuôi được thực hiện như sau:
“Điều 22. Đăng ký việc nuôi con nuôi
1. Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.
2. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có ý kiến của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.
3. Giấy chứng nhận nuôi con nuôi được gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi”.
Sau khi thực hiện đầy đủ các thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi như theo quy định tại Điều 22 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì quan hệ cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi được công nhận.
Như vậy, người con nuôi, cha mẹ nuôi sẽ có quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con theo Luật Hôn nhân và gia đình và các quy định của pháp luật liên quan, một trong các quyền đó là: con nuôi được hưởng thừa kế của cha mẹ nuôi để lại khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quan hệ nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Trường hợp này sẽ được hưởng thừa kế bình thường như đối với con đẻ.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, do cha mẹ chưa làm thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi đối với con, nên theo quy định của pháp luật nên không được công nhận quan hệ cha, mẹ nuôi và con nuôi; khi đó sẽ không được hưởng quyền thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự.
Đối chiếu với những quy định trên thì kể cả trường hợp nhận con nuôi từ rất lâu trước đó và được mọi người xung quanh công nhân nhưng do không làm thủ tục xin, nhận con nuôi tại cơ quan có thẩm quyền nên việc nhận con nuôi chưa được công nhận theo quy định của pháp luật. Do vậy, người con đó sẽ không có quyền hưởng di sản mà cha mẹ nuôi để lại, không thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 676 BLDS./.